Sunday, 27 December 2015

Làm việc với người Nhật


Từ trước tới giờ tôi vẫn hay nghe nói nhiều về sự phát triển thần kỳ của đất nước Nhật Bản. Người ta nói nhiều về sự thành công của đất nước này, sự thành công đó tất nhiên là đến từ con người Nhật Bản, bởi vì đất nước của họ thiên nhiên không phải mưa thuận gió hòa như đất nước nào đó ở vùng Đông Nam Á vẫn thường tự hào :)



Cũng chỉ nghe nói về đất nước và con người Nhật Bản như vậy nhưng tôi đã không hiểu được nhiều ở thời điểm đó. Sau một thời gian làm việc cho các công ty Nhật, hơn 5 năm 6 tháng 7 ngày, tôi có thể một phần nào hiểu được tại sao nước Nhật lại có thể đạt được nhiều thành tựu trong thời gian ngắn tới như vậy.

Bài viết này ghi lại một số kinh nghiệm, có cả những cảm nhận, về tính cách (chủ yếu là thái độ trong công việc) của những người Nhật mà tôi có dịp làm việc chung.

. Tính trung thực
   Không nói dối, luôn báo cáo tình trạng dù có tồi tệ thế nào. Bởi vì che giấu vấn đề chỉ giải quyết được vấn đề trốn tránh trách nhiệm tại thời điểm đó, tệ hại hơn nữa là làm cho người khác hiểu biết lệch lạc về vấn đề, dẫn tới không kiểm soát được hậu quả.
 
. Trách nhiệm cao, chăm chỉ
   Khi đã nhận làm một việc gì đó, người Nhật luôn làm với một tinh thần cực cao. Như thể nếu việc này mà không hoàn thành thì họ muối mặt lắm, bị đau khổ lắm, dằn vặt lắm. Do đó họ làm việc rất chăm chỉ, công việc hôm nào chưa xong thì ngồi lại tới 9, 10 giờ khuya để làm.

. Tính khiêm tốn
    Luôn tỏ thái độ khiêm tốn với người khác, cúi chào nhau khi gặp mặt. Đồng thời cũng luôn thể hiện một đầu óc luôn học hỏi, cập nhật tri thức mới.

. Sự giúp đỡ
    Sắn sàng giúp đỡ người khác nếu mình có thể giúp được một cách nhiệt tình, không tính toán so đo.

. Làm việc nhóm, trao đổi
      Kỹ năng trao đổi thông tin trong nhóm rất tốt, mọi thông tin được truyền tải qua lại giữa tất cả thành viên trong nhóm dù là việc nhỏ nhất. Ngoài ra, mỗi thành viên sẽ cố gắng làm một việc trọn vẹn và chi tiết, sau đó chia sẻ với người khác. Như vậy một người làm giỏi một việc, giúp đỡ người khác và công việc sẽ hoàn thành tốt hơn.

.Tinh thần cải tiến
    Khi gặp vấn đề, lỗi. Tập trung vào việc khắc phục sự cố trước. Sau đó tìm hiểu tại sao lại xảy ra lỗi đó, làm thế nào để lần sau không xảy ra. Tất nhiên người gây ra lỗi cũng cần có trách nhiệm báo cáo vấn đề, nhưng không phải để trách móc, chế giễu mà để lần sau không xảy ra tình trạng này.

Đó là những gì tôi thấy và học hỏi trong thời gian làm việc cùng với một số đồng nghiệp người Nhật. Viết ra những đức tính tốt của họ không phải để tự ti, thấy mình thấp kém. Mà để học hỏi, học tập. Cải thiện bản thân ngoài kiến thức chuyên môn cần có tác phong làm việc chuyên nghiệp, tính cộng đồng để hội nhập thế giới.

Monday, 2 November 2015

Xây dựng môi trường phát triển với Docker compose



Docker-composer-emotion



Tiếp nối bài viết trước Giới thiệu về Docker, bài viết này sẽ giới thiệu một công cụ để quản lý và chạy nhiều docker containers liên kết với nhau để xây dựng một môi trường phát triển ở local cho các developers, đó là công cụ docker compose.

1. Docker compose là gì

  . Định nghĩa

 "Compose is a tool for defining and running multi-container applications with Docker. With Compose, you define a multi-container application in a single file, then spin your application up in a single command which does everything that needs to be done to get it running."

 Bạn có thể tham khảo thêm thông tin chi tiết về docker compose ở đây

2. Xây dựng môi trường phát triển với docker compose

  2.1 Mục tiêu : xây dựng một môi trường phát triển local gồm các thành phần ở dưới -Reverse proxy : nginx -Framework : play-framework/scala -Database : Mysql 5.6

  2.2 Phân tích : sử dụng docker compose để quản lý và liên kết 3 containers, mỗi container chạy 1 service như ở trên gồm có nginx, play-framework/scala và mysql server
docker-composer-containers
2.3 Cài đặt docker compose : tham khảo ở đây

2.4 Thiết lập cấu hình và chạy docker compose cho project

 Tạo một folder có cấu trúc như hình bên dưới, bạn có thể đặt tên theo project hoặc tùy ý, ở đây tạm đặt là docker-compose

docker-compose-folders

Trong đó :
  • docker-compose/ : thư mục gốc lưu trữ
  • docker-compose/app_web : thư mục lưu trữ mã nguồn của ứng dụng play-framework/scala
  • docker-compose/mysql : thư mục lưu trữ Dockerfile dùng để xây dựng và chạy mysql-server container
    • Dockerfile (mysql container)
      FROM mysql/mysql-server:5.6
      ENV MYSQL_DATABASE=app_dev
      ENV MYSQL_USER=app_web
      ENV MYSQL_PASSWORD=pleasechangeme
      ENV MYSQL_ROOT_PASSWORD=pleasechangemetoo
  • docker-compose/nginx : thư mục lưu trữ Dockerfile, file cấu hình nginx dùng để xây dựng và chạy nginx container
    • Dockerfile (nginx container)
      FROM centos:centos6
      MAINTAINER longlx (long_lx@septeni-technology.jp)
      # Install epel repository
      RUN yum install -y http://dl.fedoraproject.org/pub/epel/6/i386/epel-release-6-8.noarch.rpm && yum update -y && yum clean all -y
      # Install nginx
      RUN yum install -y nginx
      # Remove the default nginx configuration file
      RUN rm -v /etc/nginx/nginx.conf
      # Copy a configuration file from the current directory
      ADD nginx.conf /etc/nginx/
      ADD app.local.conf /etc/nginx/conf.d/
      # Append "daemon off;" to the beginning of the configuration
      RUN echo "daemon off;" >> /etc/nginx/nginx.conf
      CMD service nginx start
  • docker-compose/Dockerfile : Dockerfile dùng để xây dựng và chạy play-framework/scala container
    • Dockerfile (play-framework/scala container)
      FROM centos:centos6
      MAINTAINER longlx (long_lx@septeni-technology.jp)
      # install java 8
      RUN yum install -y java-1.8.0-openjdk java-1.8.0-openjdk-devel && \
      yum clean all
      # install activator
      RUN yum update -y && yum install -y unzip
      RUN curl -O http://downloads.typesafe.com/typesafe-activator/1.3.6/typesafe-activator-1.3.6.zip
      RUN unzip typesafe-activator-1.3.6.zip -d /opt && mv /opt/activator-* /opt/activator-1.3.6/ && \
      rm typesafe-activator-1.3.6.zip && chmod a+x /opt/activator-1.3.6/activator
      ENV PATH $PATH:/opt/activator-1.3.6
      RUN mkdir /app_web
      WORKDIR /app_web
      # copy source code to container's volume
      COPY app_web /app_web
      CMD ["activator", "run"]
  • docker-compose/docker-compose.yml : file cấu hình mà docker compose sẽ sử dùng để đọc thông tin cấu hình khi chạy lệnh "docker-compose up"
    • docker-compose.yml
      nginx:
        build: ./nginx
        ports:
          - "8080:80"
        volumes_from:
          - web
        links:
          - web 
      web:
        build: .
        ports:
          - "9000:9000"
        volumes:
          - /root
        links:
          - mysql
        tty: true 
      mysql:
        build: ./mysql
        ports:
          - "3006:3006"
Đến đây việc chuẩn bị cấu hình cho docker compose đã hoàn tất. Tiếp theo chúng ta sẽ build các images từ Dockerfile và run các containers từ các images đó :
lx:~$cd docker-compose
# build images
lx:~/docker-compose$ docker-compose build
# run and link containers
lx:~/docker-compose$ docker-compose up

Hiển thị các containers đang chạy bằng lệnh :
lx:~/docker-compose$ docker-compose ps
Name Command State Ports
-------------------------------------------------------------------------------------------------
dockercompose_mysql_1 /entrypoint.sh mysqld Up 0.0.0.0:3006->3006/tcp, 3306/tcp
dockercompose_nginx_1 /bin/sh -c service nginx start Up 0.0.0.0:8080->80/tcp
dockercompose_web_1 activator run

Hiển thị logs của web containter bằng lệnh :
lx:~/docker-compose$ docker logs -f dockercompose_web_1
--- (Running the application, auto-reloading is enabled) ---
[info] p.a.l.c.ActorSystemProvider - Starting application default Akka system: application
[info] p.c.s.NettyServer - Listening for HTTP on /0:0:0:0:0:0:0:0:9000
(Server started, use Ctrl+D to stop and go back to the console...)
[info] Compiling 130 Scala sources and 2 Java sources to /app_web/target/scala-2.11/classes...
[info] 'compiler-interface' not yet compiled for Scala 2.11.6. Compiling...
[info] Compilation completed in 9.253 s

Bây giờ bạn có thể truy cập từ trình duyệt http://app.local:8080/ để kiểm tra kết quả.


2.5 Tổng kết : như vậy bạn đã có một môi trường phát triển hoàn chỉnh gồm các stacks : nginx/play-framework/mysql trên máy của mình chỉ với một vài thao tác sử dụng docker, docker compose. Việc chia sẻ với các developers khác cũng trở nên dễ dàng hơn, bạn chỉ cần đưa lên một source repository hoặc đẩy các images lên Docker Hub và các thành viên khác có thể sử dụng và đóng góp. Hiện tại trong tài liệu chính thức của docker compose không khuyến nghị sử dụng cho production, chỉ nên sử dụng ở môi trường development, staging, continous integration. Hy vọng trong tương lai gần chúng ta có thể sử dụng docker compose cho tất cả các môi trường giúp cho việc phát triển và phân phối các ứng dụng trở nên dễ dàng và trơn tru hơn. Một vấn đề nữa là khi mount một thư mục trên máy linux đã được mã hóa ổ đĩa, với một thư mục trên play-framework/scala container thì lúc biên dịch sbt sẽ báo lỗi :
"play.sbt.PlayExceptions$CompilationException: Compilation error[File name too long]"
Nguyên nhân có thể do giới hạn class file name của sbt và giới hạn của bản thân docker container. Khi có giải pháp cho vấn đề này người viết bài sẽ cập nhật.

 Thank you for reading, all comments are welcome !

Monday, 28 September 2015

AWS CloudFormation là gì?



Nếu đã từng làm việc trên AWS (Amazon Web Service) - môi trường cloud computing của Amazon - có thể bạn sẽ cần nhiều tới sự trợ giúp của CloudFormation - một công cụ để "tài liệu hóa" nguồn tài nguyên ( EC2 instances, RDS database , VPC ...) trên AWS.
Việc sử dụng CloudFormation giúp tái sử dụng các tài nguyên trên AWS dễ dàng và tự động. Giúp tiến gần tới khái niệm "Infrastructure as Code", một thuật ngữ mới trong nghành phát triển các sản phẩm phần mềm hiện đại.
Mục tiêu của bài viết này chia sẻ kiến thức cơ bản về CloudFormation, cách sử dụng nó qua một số ví dụ.

I. Một số khái niệm

1. Templates

Thành phần cốt lõi để CloudFormation làm việc là các templates. Nếu bạn là người thích liên tưởng, thì các templates giống như các bản thiết kế, phác thảo trong ngành xây dựng vậy. Nếu không thì đây là các tài liệu ở định dạng JSON, định nghĩa danh sách các tài nguyên, cấu hình của chúng mà bạn muốn sử dụng để xây dựng môi trường cho sản phẩm của mình trên AWS. Bạn sẽ định nghĩa trước các thành phần, bộ phận mà bạn muốn có ở đây. Sau đó Cloudformation sẽ đọc và thực thi theo yêu cầu của nội dung chứa trong các templates này.
Một template có cấu trúc như ở bên dưới :

{"AWSTemplateFormatVersion" : "version date","Description" : "JSON string",
"Metadata" : {
template metadata
},
"Parameters" : {
set of parameters
},
"Mappings" : {
set of mappings
},
"Conditions" : {
set of conditions
},
"Resources" : {
set of resources
},
"Outputs" : {
set of outputs
}
}

2. Stack

Stack là một thực thể của template, nó là một ngăn xếp giúp quản lý tập hợp các tài nguyên AWS đang được sử dụng trong cùng một nhóm. Bạn có thể hình dung như stack là một ngôi nhà cụ thể được xây dựng từ bản thiết kế ( các templates ). Nó là các tài nguyên đang được sử dụng thực, không còn là khái niệm trên các templates nữa.


II. Một số ví dụ


Công ty vừa phát triển một sản phẩm mới trên LAMP, bạn được yêu cầu chuẩn bị cơ sở hạ tầng và môi trường để sản phẩm chạy được trên AWS.

Đầu tiên phân tích các thành phần, stacks trên AWS sẽ gồm có :
- VPC : một data center ảo bao gồm subnets, routing tables, internetgateway
- EC2 : server ảo chạy Amazon linux, Public IP address
- RDS : database ảo chạy Mysql

Bây giờ bạn sẽ cần phải chuẩn bị các templates cho mỗi stack ở trên. Trong các templates này, bạn sẽ định nghĩa những thành phần cần thiết ở đây theo định dạng JSON. Ví dụ một đoạn JSON như dưới :
"Resources" : {"EC2Instance" : {"Type" : "AWS::EC2::Instance","Properties" : {"InstanceType" : { "Ref" : "InstanceType" },"SecurityGroupIds" : [ { "Ref" : "DevBaseWebVPCSecurityGroupID" }, { "Ref" :       "DevProductVPCSecurityGroupID" } ],"KeyName" : { "Ref" : "KeyName" },"SubnetId": { "Ref" : "DevPublicSubnet1AID" },"PrivateIpAddress" : { "Ref": "PrivateIPAddress" },"BlockDeviceMappings" : [ {"DeviceName" : "/dev/xvda", "Ebs" : { "VolumeSize" : "30" }} ],"ImageId" : { "Fn::FindInMap" : [ "AWSRegionArch2AMI", { "Ref" : "AWS::Region" },{ "Fn::FindInMap" : [ "AWSInstanceType2Arch", { "Ref" : "InstanceType" }, "Arch" ] } ] },"Tags": [{"Key": "Name","Value": { "Ref" : "InstanceName" }}} } }
Trong ví dụ trên bạn sẽ tạo một EC2 instance với các đặc điểm được định nghĩa trước, bạn có thể điền giá trị trực tiếp trong template hoặc truyền vào giống tham số sau như ở phía dưới:
  • InstanceType
  • SecurityGroupIds
  • KeyName
  • SubnetId
  • PrivateIpAddress
  • BlockDeviceMappings
  • ImageId
  • Tags
Chuẩn bị Cloudformation template cho stack VPC, một ví dụ mẫu của VPC template bạn có thể xem ở đây.

Sau khi chuẩn bị xong vpc template, giả sử bạn lưu ở thư mục cloudformation/vpc_template.json. Có nhiều cách sử dụng template này, qua web console, aws command line, api. Ở đây bạn sẽ dùng aws command line, chạy lệnh dưới để tạo stack sử dụng vpc template bạn vừa tạo ở trên :
aws cloudformation create-stack --stack-name vpc-base-network --template-body file:///cloudformation/vpc_template.json

Tương tự cho các stacks EC2, RDS còn lại.

Chuẩn bị Cloudformation template cho stack EC2, một ví dụ mẫu của EC2 template bạn có thể xem ở đây.
Sau khi chuẩn bị xong ec2 template, giả sử bạn lưu ở thư mục cloudformation/ec2_template.json. Chạy lệnh dưới để tạo stack sử dụng ec2 template bạn vừa tạo ở trên, bạn có thể truyền tham số vào template :
aws cloudformation create-stack --stack-name dev-ec2-web --template-body file:///cloudformation/ec2_template.json --parameters ParameterKey=KeyName,ParameterValue=keys.dev ParameterKey=SubnetID,ParameterValue=subnet-a1b2c3d4

Chuẩn bị Cloudformation template cho stack RDS, một ví dụ mẫu của RDS template bạn có thể xem ở đây.
Sau khi chuẩn bị xong rds template, giả sử bạn lưu ở thư mục cloudformation/rds_template.json. Chạy lệnh dưới để tạo stack sử dụng rds template bạn vừa tạo ở trên, bạn có thể truyền tham số vào template :
aws cloudformation create-stack --stack-name dev-rds --template-body file:///cloudformation/dev/rds.json --parameters ParameterKey=DBSecurityGroup,ParameterValue=sg-f677e293 ParameterKey=DBSubnetGroup,ParameterValue=vpc-network-devdbsubnetgroup-19mk1hlxxx



Như vậy là bạn đã xây dựng xong cho mình một môi trường hoàn chỉnh trên AWS bao gồm ba stacks chính là VPC, EC2, RDS sẵn sàng cho việc deploy các sản phẩm tuyệt vời lên đó rồi. Các developers khó tính chắc chắn cũng khó để không hài lòng.

Thursday, 13 August 2015

Divide and conquer - khái niệm "vạn năng"

Tôi thấy bài viết này hay hữu ích, dịch lại để nhớ phòng khi cần áp dụng :)) 

Ý tưởng chính là mọi vấn đề dù phức tạp đến đâu đều có thể giải quyết bằng phương pháp chia để trị, vấn đề phức tạp sẽ được chia thành càng vấn đề càng nhỏ càng tốt. Nhỏ tới mức đơn giản để giải quyết. Một ví dụ tôi có thể nghĩ ra là chiếc máy tính của bạn làm được rất nhiều việc phức tạp như lướt web coi phim, làm văn bản, nhận diện giọng nói mặt người ... nhưng các việc máy tính làm ở phía dưới chỉ là các phép toán cộng, trừ, lấy dư ... của CPU với các bit 0,1 mà thôi



----

Divide and conquer (chia để trị) là tên của một nhóm các thuật toán giải quyết các vấn đề bằng cách đệ quy (đệ quy là một khái niệm lập trình mà một chương trình sử dụng một phiên bản nhỏ hơn của nó). Ví dụ như Quicksort, một thuật toán gọn gàng dùng để sắp xếp các phần tử của một danh sách, có sử dụng đệ quy.

Nhưng đó không phải là định nghĩa duy nhất của nó. Trong lịch sử nó bắt nguồn từ 'divide and rule', một khái niệm để chỉ những người dân bản địa chiến đấu với nhau làm cho kẻ thù chung cai trị tất cả bọn họ. Hợp lại chúng ta thắng, chia rẽ chúng ta thất bại ...

Lý do mà tôi cho rằng divide and conquer là một trong những chiến lược đầy sức mạnh trong lập trình, đó là nó có thể được áp dụng ở mức cao : khi viết các chương trình phức tạp. Nếu bạn gặp một vấn đề quá khó để giải quyết trong một bước, bạn có thể sử dụng devide and conquer từng bước cho tới khi vấn đề của bạn trở nên dễ dàng. Sau đó bạn trở lại với vấn đề ở một cấp phía trên và tái sử dụng nó cho tới khi tất cả các vấn đề phụ được giải quyết và điều này đồng nghĩa với việc bạn đã giải quyết được vấn đề phức tạp ban đầu rồi đó.

Thậm chí khái niệm này còn được áp dụng để giải quyết tất cả các vấn đề ngoài lĩnh vực lập trình. Tôi chỉ cho bạn một ví dụ nhé : bạn cần sửa sang lại ngôi nhà? Quá khó để nắm được hết trong chốc lát, và tôi chắc rằng nếu không có kế hoạch cụ thể bạn sẽ bế tắc, thậm chí tuyệt vọng tới mức đốt luôn ngôi nhà của bạn lúc nào không hay. Không cần phải thế đâu, hãy chia nhỏ vấn đề ra và mọi thứ sẽ dễ dàng hơn :
  • cơ sở hạ tầng
    • hệ thống điện
    • đường dẫn khí ga
    • đường ống nước
    • hệ thống s
  • các căn phòng
    • phòng bếp
      • sửa trần
      • chuẩn bị tường
      • sàn gạch
      • bàn ăn
      • hộp tủ
    • phòng tắm
      • làm trần
        • đặt kính
        • vặn ốc vít
        • làm mượt
        • sơn
      • sưả tường
        • lát tường
        • lắp đặt vòi tắm
        • lắp cửa kính
    • phòng khách
    • phòng áp mái
    • tầng hầm
Tôi vừa mới liệt kê chi tiết vài hạng mục nhỏ, bạn không cần phải dừng lại ở bất kỳ cấp độ cụ thể nào, mà có thể chia càng nhỏ hạng mục tới mức bạn muốn. Đây là một bí quyết rất hữu ích, nó cho phép một người có thể giải quyết mọi vấn đề nếu cho anh ta đủ thời gian. Nó cũng áp dụng cho việc sữa chữa xe hơi, hệ thống điện, ...vân vân. Tôi chưa thấy một công việc nào mà 'divide and conquer' không làm cho nó đơn giản hơn và nó luôn làm tôi ngạc nhiên khi mọi người không biết về nó hay không biết làm thế nào để sử dụng nó trong thực tế. Và nếu bạn chia nhỏ công việc trước khi bắt tay vào làm thì hẳn nhiên nó đã trở thành một kế hoạch, mà nó sẽ càng dễ dàng hơn nếu bạn nhận ra trước được việc nào có thể sai hoặc thứ tự các việc cần làm trước, việc cần làm sau. Chẳng hạn như ở ví dụ trên, rõ ràng là bạn nên cần phải làm sàn của ngôi nhà trước khi làm các phụ kiện phòng bếp, nó giúp bạn tiết kiệm công sức và tiền của.
Rõ ràng là có vài trường hợp mà chiến lược này không dùng được. Nếu bạn có ước mong trèo lên đỉnh Everest một mình thì bạn sẽ khó mà hoàn thành được cho dù bạn đã chia nhỏ nó thành 2 quãng đường nhỏ hơn bằng toàn bộ hành trình. Bởi vì việc leo tới đỉnh Everest bản thân nó đã vượt ra khỏi giới hạn của một cá nhân con người. Nhưng gần như tất cả vấn đề bạn gặp hàng ngày, quy tắc này đảm bảo rằng bạn thường là có thể chia nhỏ chúng ra các vấn đề nhỏ hơn.

Vậy thì lần tới khi gặp phải vấn đề gì mà bạn không thể làm, trong lĩnh vực lập trình hay các vấn đề trong cuộc sống : Divide and conquer! Chia vấn đề thành hai phần nhỏ hơn bằng nhau nếu có thể, sau đó cố gắng giải quyết chúng và nếu chúng vẫn còn quá phức tạp thì hay lặp lại quá trình trên cho tới khi có ít nhất một vài phần của vấn đề lớn trở nên khả thi. Thậm chí đôi khi phải bỏ đi một phần nhỏ của vấn đề để làm cho công việc còn lại dễ giải quyết hơn.

Source : http://jacquesmattheij.com/divide-and-conquer

Sunday, 9 August 2015

Học Algorithms, Ngày 03


Hôm nay học Week 1 Analysis of Algorithms [introduction] & [observations]. Phần này nói về việc phân tích các thuật toán.

Ghi lại một vài ý mà tôi cho là quan trọng.

1.[introduction]

Lý do tại sao cần phải phân tích thuật toán :
  • Predict performance.
  • Compare algorithms.
  • Provide guarantees.
  • Primary practical reason : avoid performance bugs.


Phân tích thuật toán như thế nào? Một trong các cách là dùng scientific method, nghĩa là dùng phương pháp khoa học. Gồm các bước chính sau :
  • Observe some feature of the natural world.
  • Hypothesize a model that is consistent with the observations.
  • Predict events using hypothesis.
  • Verify the predictions by making futher observations.
  • Validate by repeating until the hypothesis and observations agree.


2.[observations]

Sử dụng phương pháp quan sát để mô hình hóa việc tính toán thời gian chạy với kích cỡ dữ liệu đầu vào.

Hầu hết được tính theo công thức : T(N) = aN^b

Từ các kết quả chạy chương trình thực tế, tính toán a và b. Dự đoán b bằng cách gấp đôi số liệu dữ liệu đầu vào, phương pháp "doubling hypothesis". So sánh tỷ lệ kết quả các lần chạy, tính log cơ số 2, -> tính được b.

Hypothesis. Running time is about a N^b with b = lg ratio

Sau đó tính a bằng cách thay vào công thức T(N) và kết quả từ việc chạy chương trình thực tế.

Sau đó so sánh lại kết quả thực tế và kết quả dự đoán cho tới khi 2 kết quả này gần nhau nhất có thể.

Một vài lưu ý nhỏ về việc ảnh hưởng của các tham số:

System independent effects.
・Algorithm.
・Input data.

System dependent effects.
・Hardware: CPU, memory, cache, …
・Software: compiler, interpreter, garbage collector, …
・System: operating system, network, other apps, …

Hôm sau học Week 1 Analysis of Algorithms [mathematical models]

Tuesday, 4 August 2015

Học Algorithms, Ngày 02


Hôm nay học "Week 1" [quick-find] & [quick-union]. Đã thấy khó hơn nhưng vẫn hiểu được không nhiều thì ít hơ hơ.

Ghi lại vài chú ý chính.

1. [quick-find]

Data structure.
・Integer array id[] of length N.
・Interpretation: p and q are connected if and only if they have the same id.

Operations.
・Find : check if p and q have the same id.
・Union : to merge components containing p and q, change all entries whose id equals id[p] to id[q].

quick-find is too slow. 
union is too expensive. It takes N*N array accesses to process a sequence of N union commands on N objects.

2. [quick-union]

Data structure. 
・Integer array id[] of length N. 
・Interpretation: id[i] is parent of i. 
・Root of i is id[id[id[...id[i]...]]].

Operations.
・Find : check if p and q have the same root. 
・Union : to merge components containing p and q, set the id of p's root to the id of q's root.

quick-union is also too slow.
find too expensive (could be N array accesses).

Túm lại là 2 thuật toán quick-find và quick-union có thể giải quyết được vấn đề [dynamic connectivity], một cái thì "tìm nhanh" , cái còn lại thì "hợp nhanh". Tuy nhiên 2 thuật toán này không hiệu quả về mặt hiệu năng, quá chậm khi số phần tử N lớn. Hai cái này gọi là "quandratic algorithms" nghĩa là thời gian tính toán tăng theo cấp số bình phương của kích cỡ.

Hôm sau sẽ học Week 1 [quick-union improvements] & [union-find applications].

Tự thiết kế nhà của mình


Mỗi ngày 1 ý tưởng

Có ý tưởng muốn tìm hiểu cách xây dựng một ngôi nhà. Từ đó có thể tự thiết kế ngôi nhà của mình.

Ngôi nhà mà tôi thich sẽ như thế này, bên ngoài sẽ nhiều cây cối (cây ăn trái như xoài, hồng xiêm, ổi càng tốt), bên trong thì đầy đủ tiện nghi với lò sưởi, điều hòa, chăn gối loại xịn và êm, rồi có bóng đèn nhiều màu sắc. Tivi truyền hình cáp, internet tốc độ cao.
Hơ hơ như thế có mơ mộng quá không nhỉ.




Sẽ tham khảo thêm nếu có đủ thời gian, và tất nhiên là $$ nữa.

Học Algorithms, Ngày 01


Hôm nay học "Week 0 : Welcome to Algorithms" và "Week 1 : Union-find" [dynamic connectivity]

Mới bắt đầu, chính yếu là giới thiệu xem hoa một chút chưa có kiến thức gì nặng nề cả.

Ghi chú lại vài điểm mà tôi cho là quan trọng :
  • Algorithm : method for solving a problem
  • Data structure : method to store information
Data structure thì luôn gắn kèm với một vấn đề nào đó cần giải quyết, và luôn đi cùng với algorithm. Hình dung algorithm và data structure như thể tay với chân vậy đó. Cùng phối hợp, làm việc với nhau để solve problems. Mà giải được câu đố nào đó thì quá tuyệt rồi đúng không?

Tại sao lại học thuật toán ?
  • Their impact is broad and far-reaching.
  • Old roots, new opportunities.
  • To solve problems that could not otherwise be addressed.
  • For intellectual stimulation.
  • To become a proficient programmer.
  • They may unlock the secrets of life and of the universe.
Các bước để xây dựng một thuật toán hữu dụng ?
  • Model the problem.
  • Find an algorithm to solve it.
  • Fast enough? Fits in memory?
  • If not, figure out why.
  • Find a way to address the problem.
  • Iterate until satisfied.

Một ví dụ được dùng để phát triển một algorithm cho vấn đề dynamic connectivity.

Bài toán là cho N phần tử, với "union command" để kết nối 2 phần tử, với "find query" để kiểm tra xem 2 phần tử có kết nối với nhau không. Bài toán là cần tìm một thuật toán hữu dụng để kiểm tra xem 2 phần tử bất kỳ có kết nối với nhau hay không ?

Rồi, bắt đầu các bước để xây dựng thuật toán.

Việc đầu tiền là : modeling the objects
Việc tiếp là : modeling the connection
Tiếp là : implementing the operations (find query, union command)
Nữa là : thiết kế một data structure hữu hiệu cho thuật toán Union-find

Túm lại là có cái Union-find data type (API) như phía dưới :
public class UF
UF(int N) --> initialize union-find data structure with N objects (0 to N – 1)
void union(int p, int q) -->add connection between p and q
boolean connected(int p, int q) --> are p and q in the same component?
int find(int p) --> component identifier for p (0 to N – 1)
int count() --> number of components

Ngày mai sẽ học tiếp "Week 1" [quick find] & [quick union].

Học Algorithms, Part I trên Coursera


Từ hôm nay sẽ quay lại chuyện học hành, cho tử tể. Tôi thấy việc học từ trước đến giờ của mình thực sự "bát nháo", không biết dùng từ nào khác.

Cần làm một cuộc cải cách bằng việc tự học là chính. Dù khó khăn nhưng cũng phải mỉm cười đi tiếp, cũng xem như là một thử thách cho cuộc đời vốn nhàm chán.

Bắt đầu với khóa học Thuật toán, phần 1, https://www.coursera.org/course/algs4partI trên trang web học trực tuyến miễn phí nổi tiếng toàn thế giới Coursera với nhiều khóa học đến từ các trường học danh giá nhất trên tinh cầu Standford, Princenton ...

Tôi hay bỏ giữa chừng các khóa học, một phần do thiếu ý chí, phần do kiến thức chắp vá lổm chỗm nên khó theo đuổi được trọn vẹn. Lần này sẽ cố gắng học xong khóa này và viết blog tổng kết hàng ngày để theo dõi quá trình học của mình.

Hy vọng 2 hoặc 3 tháng nữa có bài tổng kết tốt đẹp cho bài blog bắt đầu ngày hôm nay này.

Sunday, 4 January 2015

Docker là gì

what_is_docker

Gần đây Docker đang được thảo luận và gây được nhiều chú ý trong cộng đồng công nghệ trên thế giới, với nhiều hứa hẹn trong tương lai. Các hãng công nghệ lớn như Google, Amazon, Microsoft, IBM … đã bắt đầu hỗ trợ Docker trên nền tảng của họ.

Vậy Docker là gì, có gì thú vị ? Bài viết này ghi lại ngắn những hiểu biết của người viết trong quá trình tìm hiểu về Docker, hi vọng sẽ giúp người đọc có một cái nhìn tổng quan về Docker. Cuối cùng sử dụng Docker để đóng gói và chạy một ứng dụng “Hello world !” Scala trên Play framework.

1. Docker là gì 

.Định nghĩa
Docker là một nền tảng mở dành cho các lập trình viên, quản trị hệ thống dùng để xây dựng, vận chuyển và chạy các ứng dụng phân tán. Ban đầu viết bằng Python, hiện tại đã chuyển sang Go-lang.

.Các thành phần chính

- Docker Engine : là thành phần chính của Docker, như một công cụ để đóng gói ứng dụng
- Docker Hub : là dịch vụ cloud để chia sẻ ứng dụng và tự động hóa chuỗi các công việc liên tục, có thể thao tác pull/push với các images

 . Một số khái niệm

 -Docker images : là một “read-only template”. Chẳng hạn, một image chứa hệ điều hành Ubuntu đã cài đặt sẵn Apache và ứng dụng web

Docker registries : Là kho chứa images. Người dùng có thể tạo ra các images của mình và tải lên đây hoặc tải về các images được chia sẻ

Docker container : hoạt động giống như một thư mục (directory), chứa tất cả những thứ cần thiết để một ứng dụng có thể chạy được. Mỗi một docker container được tạo ra từ một docker image. Các thao tác với một container : chạy, bật, dừng, di chuyển, và xóa

Dockerfile : là một file chứa tập hợp các lệnh để Docker có thể đọc và thực hiện để đóng gói một image theo yêu cầu người dùng

Orchestration : là các công cụ, dịch vụ dùng để điều phối và quản lý nhiều containers sao cho chúng làm việc hiệu quả nhất 

2. So sánh Docker với Virtual machine
 Smiley face 

Điểm khác biệt chính là các containers sử dụng chung kernel với Host OS nên các thao tác bật, tắt rất nhẹ nhàng, nhanh chóng.

. Ưu điểm : nhanh, nhẹ, có thể chia sẻ dễ dàng qua DockerHub
. Nhược điểm : mới, cập nhật thay đổi thường xuyên 

3. Sử dụng Docker để đúng gói và chạy ứng dụng “Hello World” dùng Scala trên Play framework . Cài đặt Docker daemon 

Việc cài đặt khá đơn giản, tùy theo OS sẽ có cách cài đặt khác nhau, tham khảo thêm tại đây 

Cài trên Ubuntu 14.04 :
sudo apt-get update
sudo apt-get install docker.io

. Viết Dockerfile

Viết Dockerfile để đóng gói 1 image trong đó đã cài đặt Play framework, ứng dụng “Hello world” Scala và môi trường.

FROM ubuntu:14.04
MAINTAINER longlx <longlx@septeni-technology.jp>;
# Create play user, group
RUN groupadd play
RUN useradd play -m -g play -s /bin/bash
RUN passwd -d -u play
RUN echo "play ALL=(ALL) NOPASSWD:ALL" > /etc/sudoers.d/play
RUN chmod 0440 /etc/sudoers.d/play
# Install dependencies
RUN apt-get update
RUN apt-get install -y git build-essential curl
RUN apt-get install -y wget
RUN apt-get install -y zip unzip
# Install play
WORKDIR /tmp
RUN wget http://downloads.typesafe.com/play/2.2.6/play-2.2.6.zip
RUN unzip play-2.2.6.zip
RUN mv play-2.2.6 /home/play/play
# Install jdk, openjdk
RUN apt-get install -y default-jdk openjdk-7-jre
# Expose play framwork port 9000
EXPOSE 9000
CMD cd /home/play/play/samples/scala/helloworld && /home/play/play/play run

. Đóng gói image từ Dockerfile ở trên, chuyển tới thư mục chứa Dockerfile file và chạy lệnh
sudo docker build -t longlx/play-hello .

. Bật Docker Container
sudo docker run --rm -it -p 9000:9000 longlx/play-hello

Truy cập http://localhost:9000, điền thông tin và submit form :  
Smiley face
. Push image lên DockerHub
sudo docker push longlx/play-hello


. Từ một EC2 chạy ubuntu, chạy lệnh sau để Docker pull longlx/play-hello image từ DockerHub và bật conatianer lên
sudo docker run --rm -it -p 9000:9000 longlx/play-hello

Truy cập http://ec2-public-ip:9000, điền thông tin và submit form : Smiley face 
4. “Use Case” cho môi trường phát triển

Có thể sử dụng docker trong môi trường phát triển phần mềm như mô hình dưới :

. Bước 1 : Lập trình viên sử dụng Docker trên máy local của mình, phát triển và đóng gói thành docker image, đẩy lên DockerHub

. Bước 2 : SQA có thể tải về image trên môi trường test, bật container và thực hiện việc test các tính năng

. Bước 3 : Nếu test thành công, có thể pull image và bật container trên môi trường production. Nếu việc test không thành công, SQA thông báo lại để lập trình viên kiểm tra lại (quay lại Bước 1)

Bài viết ghi lại những hiểu biết của người viết thu nhận được trong quá trình tìm hiểu và sử dụng Docker còn khá cơ bản. Rất mong nhận được góp ý của người đọc.

Bucket list của tôi

Trong tiếng anh có một thuật ngữ "bucket list", được định nghĩa như này: -  a number of experiences or achievements that a person ...